MẠCH TÂM – TIỂU TRƯỜNG
Mạch Tâm ở bộ Thốn tay trái, phù án xem Tiểu trường, trầm án xem Tâm, Tâm với Tiểu trường là biểu lý.
Mạch Tâm Phù, Hồng, Đại có thể cả Tán nữa là mạch trung bình. Đó là bản mạch của Tâm.
Phù Hồng Đại: chỉ thấy nhỏ ít thoang thoảng không kéo dài lâu được là bệnh Tiểu trường.
- Mạch tiểu trường
Mạch Sác: Cảm nhiệt làm đau đầu, đau đốt xương, nóng mình đỏ mặt, nặng hơn làm đau tim, (Sác ứng với nhiệt).
Mạch Trì: làm đau bụng lạnh đau, ợ hơi, (Trì ứng với hàn).
Mạch Hư: khí huyết phủ Tiểu trường suy yếu. Đau một bên đầu (thiên đầu thống) chẳng ra má, ra tai.
Mạch Huyền mà Hoạt: khí trong bụng không thông làm sưng đau một hòn dái (thiên trụy) và rất nhiều giun cắn trong ruột (những người này khi ấy trên mặt có hiện những điểm chấm trắng).
Mạch Khẩn mà Hoạt: hàn khí, nhiệt khí đấu tranh nhau trong Tiểu trường, Bàng quang làm đái gắt, có khi bòn bế sáp cả đại tiện.
Mạch Hồng mà Hoạt: Đàm nhiệt nhiều làm cách và hiếp đầy trướng (Cách: hoành cách mô, hiếp: hai cạnh hốc bụng).
Mạch Đại mà Trường: phong là đầu mặt quay cuồng, có khi thành điên giản.
Mạch thực: nhiệt tà làm mặt đỏ.
Mạch Nhu: chân lắm mồ hôi, khí huyết Tiểu trường suy kém.
Mạch Khổng: Huyết ứ tích trong bụng không tan đi được. Huyết đã tích, khí cũng không thông làm sôi bụng. Nếu khí ấy nghịch lên thì Thổ ra máu. Khí ấy đi xuống thì đại tiện ra máu. Nặng hơn nữa vừa thổ vừa lỵ ra máu (xuất huyết phủ tiểu trường).
Mạch Dật: (đẩy lên đầy ngón tay trong bộ Thốn mà sang cả bộ Quan): Tâm nhiệt làm đỏ mặt, buồn ngực và đau các khớp xương.
Mạch Tuyệt: Tiểu trường không có mạch, chỉ còn có mạch Tâm là khí huýêt hư suy làm lạnh rốn, đau bụng, kết trưng hà trong bụng.
- Mạch tâm
Mạch Trầm: khí uất làm lắm đàm, mất ngủ. Nếu khí ấy uất lên làm đau mắt, khí ấy đi xuống làm băng huyết, lậu huyết hay lạc huýêt (khạc ra máu, không ho).
Mạch Sác, Hoạt, Thực: Nhiệt cực. Tâm trạng kinh hoàng, nói ngọng lưỡi cứng.
Mạch Trì: Tâm hàn, huyết hàn. Tinh thần suy nhược.
Mạch Vi: Vinh huyết yếu mà hư hỏa thượng công làm hông và cách đầy trướng.
Mạch Thực: Thượng tiêu nhiệt làm lở miệng lưỡi, đau cổ họng.
Mạch Hoãn: Khí huyết hư hàn làm gân cổ, gân lưng đau cứng.
Mạch Hoạt: Đàm và khí nóng công kích nhau làm ụa mữa, ợ ngược hay làm Tâm run sợ.
Mạch Sác (vô lực): Khí huyết ở Tâm kinh suy yếu, vị khí hạ hãm, tinh thần uể oải, mặt mất máu, lưỡi không buồn nói.
Mạch Khẩn: Thận thủy nghịch lên khắc chế Tâm hỏa làm đau giữa tim như đâm như xọc vào, thật rất nguy nan (tặc tà).
Mạch Nhược: Dương khí hư làm Tâm kinh hoàng, mồ hôi thoát ra rất khó trị.
Mạch Phục: Nhiệt khí ở tâm phế tích tụ trong bụng làm nóng uất lắm đàm.
Tâm mạch Huyền: Can tà xâm lấn vào Tâm làm cứ cào cào như đói mà lại tưng tức như no đầy (hư tà).
Mạch Tuyệt: Tâm không có mạch (chỉ còn có mạch Tiểu trường) làm đau xói dưới tim, nóng hai lòng bàn tay, trong miệng lở loét lại hay nôn ọe.
Phù án và Trầm án đều hư: tức là Tâm và Tiểu trường đều hư hàn, là đại tiện tháo, thiếu hơi thở, người mệt lạnh, tay chân lạnh.
Phù án và Trầm án đều thực: tức là Tâm với Tiểu trường đều thực nhiệt làm bí đái, bí ỉa, ngực nóng, bụng trướng đầy.
#bắt_mạch
#mạch_học
#học_mạch_thầy_Linh
#truyền_nghề_đông_y_thầy_Linh
#học_châm_cứu
#học_xoa_bóp_bấm_huyệt

